IFN-γ là một yếu tố điều hòa miễn dịch quan trọng đóng vai trò rất lớn trong sinh bệnh học của bệnh vảy nến. Nghiên cứu này góp phần tìm hiểu rõ hơn về sinh bệnh học của bệnh vảy nến tại Việt Nam cũng như đặt những viên gạch đầu tiên cho việc nghiên cứu và phát triển liệu pháp sinh học thuốc kháng IFN-γ trong điều trị bệnh vảy nến.

Mục tiêu: Định lượng nồng độ IFN- γ huyết thanh ở những bệnh nhân vảy nến và so sánh nồng độ IFN- γ huyết thanh với độ nặng lâm sàng, thời gian mắc bệnh và tính chất khởi phát sớm của bệnh vảy nến.

nghiên cứu nồng độ interferon gamma trong huyết thanh

Nghiên cứu nồng độ interferon gamma trong huyết thanh

Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang phân tích trên 40 người khỏe mạnh và 62 bệnh nhân vảy nến.

Kết quả: Nồng độ IFN- γ trong huyết thanh ở những bệnh nhân vảy nến trung bình là 11,24 ± 6,94 pg/mL, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm người bình thường là 1,29 ± 0,76 pg/mL (p < 0,001). Nồng độ IFN- γ trong huyết thanh của nhóm bệnh nhân đỏ da toàn thân do vảy nến là 13,80 ± 8,51 pg/mL, nhóm vảy nến khớp là 10,86 ± 5,79 pg/mL và thấp nhất là nhóm bệnh nhân vảy nến mảng 9,76 ± 5,84 pg/mL. Tất cả nồng độ này đều cao hơn nhóm bình thường với p < 0,001. Tuy nhiên chúng tôi không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nồng độ IFN- γ huyết thanh giữa các dạng lâm sàng của bệnh vảy nến. Có mối tương quan tuyến tính giữa nồng độ IFN- γ huyết thanh và độ nặng của vảy nến mảng tính theo chỉ số PASI (hệ số tương quan r = 0,51, p < 0,001). Không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nồng độ IFN- γ huyết thanh và độ nặng của vảy nến khớp (p = 0,60). Không có mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa nồng độ IFN- γ huyết thanh và thời gian mắc bệnh (p=0,25), giữa nồng độ IFN- γ huyết thanh với tính chất khởi bệnh sớm trước 30 tuổi (p=0,19).

Kết luận: Xét nghiệm nồng độ IFN- huyết thanh là 1 xét nghiệm cung cấp những thông tin hữu ích giúp chúng ta hiểu rõ hơn về mạng lưới sinh bệnh học của bệnh vảy nến. Hiện nay trên thế giới hoàn toàn chưa có 1 xét nghiệm nào hỗ trợ đánh giá độ nặng lâm sàng của vảy nến. Do đó, việc định lượng IFN- γ huyết thanh có thể được khuyến cáo sử dụng như 1 công cụ hỗ trợ trong việc đánh giá độ nặng của bệnh và theo dõi điều trị. 

ABSTRACT :

SERUM INTERFERON GAMMA IN PATIENTS WITH PSORIASIS 

IN HOSPITAL OF DERMATO-VENEREOLOGY IN HO CHI MINH CITY

Vo Thi Doan Phuong , Nguyen Tat Thang

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 - Supplement of No 1 - 2013: 364 - 371

Background: Interferon gamma (IFN- γ) is an important immune regulator and plays a major role in the pathogenesis of psoriasis. This study takes part in improving the understanding of pathogenesis of psoriasis, which encourages further research on anti-IFN- γ biologic therapy in the treatment of psoriasis.

Objective: To analyze the serum IFN-γ levels in psoriatic patients to evaluate the concentrations, correlation with some clinical features.

Method: Performing an analyzed cross-sectional study in 42 healthy subjects and 60 psoriatic patients.

Results: The mean serum IFN- γ levels of the patients were 11.24 ± 6.94 pg/mL, significantly higher than those of healthy subjects 1.29 ± 0.76 pg/mL (p < 0.001). The mean serum IFN- γ levels of patients with erythroderma (13.80 ± 8.51 pg/mL), the plaque-type psoriatic patients (9.76 ± 5.84 pg/mL) and patients with psoriatic arthritis (10.86 ± 5.79 pg/mL) were significantly differerent  from those of healthy subjects (p < 0.001). There was not a significantly differerent between the serum IFN- γ levels and severity of psoriatic arthritis (p=0.60). There was a linear positive correlation between the serum IFN- γ levels and psoriasis area and severity index (PASI) scores (R = 0.51, p

Conclusion: Serum IFN- γ levels provide many useful information about pathogenesis of psoriasis. There haven’t been any tests to evaluate the severity of psoriasis. Therefore, Serum IFN- γ levels might have clinical usefulness, particularly in evaluating the monitoring the clinical disease severity and monitoring therapeutic effects. 

Theo http://moodle.yds.edu.vn/tcyh